Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013

CÂY LƯỢC VÀNG CHỮA BỆNH VẨY NẾN TỐT NHẤT

“CÂY LƯỢC VÀNG QUÝ NHƯ VÀNG” được biên soan dựa trên cuốn sách “Cây lược vàng chống lại 100 bệnh” của Alecxanđr Korođetxki - thầy thuốc và nhà năng lượng học thực vật, chuyên gia nổi tiếng về trị bệnh bằng thảo dược, xuất bản năm 2004, nhằm cung cấp cho ban đọc thông tin CÂY LƯỢC VÀNG thật sự ”như vàng” nhìn từ góc độ cây chứa nhiều hoạt chất sinh học quý và các nguyên tố cần thiết cho cơ thể con người (trang 25), đồng thời với nghĩa có thể chữa hoặc giảm nhẹ nhiều bệnh, nhất là các bệnh mãn tính..

Tuy nhiên cây lược vàng không phải là cây thuốc vạn năng, các tính chất dược lý của nó còn chưa được phát hiện đầy đủ (trang 20), vì vậy việc nghiên cứu tác dụng của cây, nhất là tác dụng chống ung bướu vẫn đang tiếp tục đẩy mạnh (trang 21).

Đây là một trong 14 cuốn sách ghi nhận được từ trang web của Nga. Điều này giải thích tại sao cây lược vàng ban đầu chỉ là cây cảnh lại giành được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và sự mến mộ của đông đảo người Nga, nay lại được nhân dân nhiều nơi trong nước biết đến nhờ thông tin của người dân và Câu lạc bộ Hàm rồng Thanh Hóa. Nhưng đáng tiếc, cho đến thời điểm diễn ra Hội thảo về cây lược vàng ở Thanh Hóa (4/2008) thì những thông tin từ nước ngoài lại không đến được ngay cả một số nhà khoa học, người quản lý nhà nước về Y tế, người đứng đầu các cơ quan nghiên cứu dược chuyên ngành, nên không có những định hướng mang tính khoa học trong dư luận về cây này.

Cuốn sách được viết dưới dạng chuyện kể của các chuyên gia và nhà khoa học có uy tín. Nó có nội dung phong phú và bao quát; thông tin khách quan, toàn diện.

Khi biên soạn, một số chương, phần ít liên quan đến chủ đề chính đã được lược bỏ, phần còn lại được tóm tắt, sắp xếp lại ý tứ và bố cục cho phù hợp nhằm làm cho tài liệu ngắn ngọn để bạn đọc tiện khai thác.

Cây lược vàng dễ trồng, dễ chế biến, dễ sử dụng và bảo quản. Nó là cây thuốc “ trứ danh”, là “thầy thuốc” tại nhà. Hy vọng trong tương lai không xa sẽ là “cứu cánh” cho nhiều người, nhất là những người có hoàn cảnh kinh tế eo hẹp.

Mong bạn đọc là “bác sĩ tốt nhất của chính mình” - áp dụng sáng tạo những kiến giải trong sách, rút kinh nghiệm để tìm ra các phương thuốc phù hợp nhất với cơ địa của mình; đồng thời là “người tiêu dùng thông minh” khi lựa chọn và sử dụng không chỉ cây lược vàng mà cả một số phương thuốc (Đông, Tây y) để trị bệnh thường được quảng cáo quá mức hoặc có giá quá đắt.
I- BÍ MẬT CỦA CÂY LƯỢC VÀNG

Bà Valetina Ivanovna, bạn cũ có cùng đam mê nghiên cứu thảo dược, đưa đến cho tác giả của cuốn sách này (Alekxanđr Korođetxki) lọ kem có tên Đikhorizandra 1 đã gây cho ông sự chú ý đặc biệt.

Trên nhãn tự làm có ghi: “Kem chứa dịch của cây Đikhorizanđra (xin gọi tắt là Đikhora).Trong thân và lá cây chứa các chất như: Pectin, Carotinoit, Catêkhin, Flavonoit có tác dụng chống viêm, giảm đau, làm lành vết thương, kháng khuẩn, tạo miễn dịch. Dùng ngoài chữa viêm khớp, hư khớp, thoái hóa đốt sống, đau dây thần kinh, dập thương tụ máu, loét do dinh dưỡng, mụn nhọt, bong gân. Có thể sử dụng để mát xa. Tăng nhanh tái sinh mô, tránh tổn thương da do nấm, ngăn ngừa bọ có cánh (ruồi, muỗi, bọ đất)”.

Căn cứ vào nhãn thuốc, loại kem này được chế biến ở thành phố Nôvôxibirxk. Bà bạn kể: Có một người đàn ông đại diện cho một xí nghiệp đến xin tư vấn về cây Đikhora nào đó trồng tại nhà dùng làm thuốc. Nhưng trong số trên 5 dạng cây do bà đang trồng trong nhà kính, đâu là Đikhora thì người này bối rối và cho biết tên dân gian của cây thuốc là “CÂY RÂU VÀNG”

Vậy là tên này có liên quan đến một cây trồng hoàn toàn khác. Điều ngạc nhiên hơn là những người định chế biến loại thuốc từ cây mà họ chưa nhìn thấy tận mắt và cũng chưa gọi đúng tên của nó.

Bà đã kể cho anh ta nghe những điều về các cây mà bà biêt. Bà nhận lọ kem rồi mang đến cho tác giả của cuốn sách này làm tin và cho rằng ông là người nổi tiếng, nên viết sách về cây thuốc trứ danh này để mọi người đều biết. Đó là động lực để tác giả tìm kiếm thông tin giải đáp bí mật của “Cây lược vàng”.

Cây râu vàng - cây sâm nhà - cây râu viễn đông - cây ngô - cây tóc tươi,…tất cả chỉ là một loại cây có tên khoa học là Kallizia thơm, tên la tinh là Callisia fragrans.

Kallizia cũng như Đikhora thuộc họ Thài lài (Commelinaceae). Những cây thuộc họ này mọc hoang thành bụi ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của Châu Mỹ, Châu Á, Châu Phi và Úc. Những cây tiêu biểu được trồng rộng rãi làm cảnh, chúng có nhiều tính chất của thảo dược. Cây Đikhora không có râu(vòi), chưa được nghiên cứu nhiều, còn cây Kallizia thơm có râu(vòi) và rất nổi tiếng.

Năm 1840 lần đầu tiên cây Kallizia thơm được mô tả với tên Spironema fragrans. Năm 1932 đổi tên thành Rectanthera fragrans. Năm 1942 R.E. Woodson đặt tên cho cây là Callísia fragrans. Cây có 12 loại mà đại diện của chúng mọc ở vùng Trung và Nam Mỹ.

Kallizia thơm - Callisia fragrans - Cây râu vàng – Từ đây sẽ dùng tên đã phổ biến ở Việt Nam là CÂY LƯỢC VÀNG. Nhưng xét về hình dáng bên ngoài thì dùng tên CÂY LAN VÒI do người dân Thanh Hóa đặt là hợp lý hơn cả (người biên dịch).

Cây lược vàng – cây mọc hoang thành bụi, sống lâu năm, có chiều cao tới 2m, cây trồng tại nhà có chiều cao tới 1m. Cây có lá to, dài khoảng 20-30cm, rộng khoảng 5- 6cm; phía trên lá láng bóng, lá có màu xanh thẫm. Cây có 2 loại: loại trổ các nhánh thẳng lên trên trông như cây ngô non, loại trổ các vòi(râu) nằm ngang, các vòi này phân thành các đốt bởi các mấu, trên các mấu phát ra lá nhỏ dạng vẩy, tận cùng vòi là búp. Hoa của cây rất nhỏ, trổ thành chùm ở trên ngọn và có mùi thơm dịu. Cây mọc hoang ra hoa vào năm thứ 2, còn cây trồng tại nhà thì điều này hiếm gặp. Cây có nguồn gốc từ Mexico.

Hiện nay những bí mật của cây lược vàng chưa được khám phá đầy đủ, nhưng có thể dẫn ra vài phát hiện khởi đầu từ hai mẩu chuyện nhỏ sau đây:

1) Tác giả của cuốn sách này có người bạn mà vợ ông ta tên Natalia, từng làm ở viện nghiên cứu khoa học với nghề trồng cây cảnh và kết hoa khô. Bà ta đã chỉ dẫn cho tác giả xem và cung cấp cặn kẽ thông tin về Cây lược vàng và kể một chi tiết thú vị: Cách đây ít năm, khi mọi người còn chưa biết những tính chất chữa bệnh của cây này thì một cô giáo dạy sinh vật khi nhìn thấy đã rất ngạc nhiên và xin ngay một búp nhỏ làm tiêu bản cho bộ môn để triển khai đề tài “Nhân bản vô tính”. Không lâu sau, cây phát triển rất nhanh và nhân rộng trong toàn trường. Đặc biệt con vẹt nuôi trong phòng văn hóa rất yêu thích cây này và chính nó là tác giả đầu tiên phát hiện các tính chất kỳ diệu của cây thuốc; vì như mọi người đều biết các động vật, nhất là chim thú không bao giờ nhầm lẫn cái lợi, cái hại.

2) Khi thu thập tài liệu để viết cuốn sách này, tác giả đã liên hệ với nhà sinh vật học – thầy thuốc nội khoa thực vật Đmitri Xvetrkin, là bạn cũ, đã đôi lần cùng chia sẻ thông tin về cây trồng. Ông đã cho tác giả xem nhà kính trồng cây lược vàng, giới thiệu tính đa năng của cây, chỉ ra những vấn đề chưa được nghiên cứu tận gốc, đồng thời kể lai lịch một phương thuốc gia truyền độc đáo:

Như đã biết, ngay từ những năm 20 của thế kỷ trước, các nhà khoa học Mỹ đã chú tâm nghiên cứu các truyền thuyết của cư dân Mỹ La tinh về thảo dược, thu thập được một khối lượng tài liệu đồ sộ làm cơ sở nghiên cứu. Đã điều tra hơn 30.000 loại cây, phát hiện trong số đó nhiều loại có những tính năng chữa bệnh có một không hai mà dân địa phương đã sử dụng trong nền y học của họ.

Bản thân ông Đmitri đã quan tâm và tìm thấy ở các công trình nghiên cứu của các đồng nghiệp Mỹ nhiều điều bổ ích cho công việc của minh, đặc biệt là câu chuyện về cây Pauk (Spider plant). Nó được mô tả là cây có những tính chất chống viêm các mô và làm vết thương mau lành tuyệt vời. Đó là trường hợp một nhà khoa học trong đoàn thám hiểm đã bị nhiều vết thương rất nặng. Với khí hậu nóng ẩm, các vết thương bắt đầu sưng tấy, trong khi đó cơ sở y tế của thành phố lớn lại quá xa, dân địa phương mách bảo đến nhờ bà lang vườn có bài thuốc trị vết thương, kể cả vết cắn của thú độc. Các thành viên của đoàn thám hiểm buộc phải chấp nhận sự giúp đỡ đó, hơn nữa chính họ cũng đang tiến hành nghiên cứu các cây thuốc của Mexico, có kế hoạch thu thập thông tin về các thảo dược và cách sử dụng chúng.

Khi đó họ rất ngạc nhiên khi bà lang ra sân hái mấy lá của một cây lạ, cao chừng 1mét, từ thân cây trổ ra các vòi nằm ngang gần như không màu, phủ bởi các vẩy lá và tận cùng là búp non. Lá đem rửa sạch, cho vào cối giã kỹ, nhũ nhuyễn thu đựợc bà đem đắp lên các vết thương và buộc lại bằng băng gạc của đoàn vì họ không tin dẻ buộc của bà lang vô trùng. Sau 3 ngày bệnh nhân thấy đỡ, các vết sưng tấy xẹp đi, miệng các vết thương bắt đầu xe lại, cứ mỗi ngày thay băng 1 lần. Sau một tuần lễ đoàn thám hiểm lại tiếp tục hành trình và mang theo nước sắc của lá. Bà lang cho biết cây còn có tác dụng giảm đau xương khớp, chữa được mụn nhọt, điều hòa hoạt động đường ruột.

Tuy nhiên những điều kỳ diệu của cây cần có thời gian kiểm chứng. Nhưng những gì diễn ra như : nước sắc của lá cây rõ ràng không bị thiu sau 3 tuần lễ, còn các vết thương hoàn toàn lành lặn trở lại là những bằng chứng xác thực để các nhà khoa học tin tưởng.

Vậy cây người dân Mexico gọi là cây Pauk chính là cây lược vàng và là chủ đề chính của cuốn sách này. Riêng ông Đmitri chỉ tin chắc điều đó sau khi nhìn thấy tận mắt và biết chính xác tên của cây ở nhà kính của vườn bách thảo Luân Đôn. Ở nước ngoài cây lược vàng còn có tên”Cây sợi đan”,”Cây cái lẵng” hoặc như tên dân gian - ”Cây Pauk”.

Sau khi trao đổi với ông Đmitri, tác giả của cuốn sách còn tiếp cận với các ấn phẩm của các nhà khoa học nước ngoài, biết rằng nó được đưa vào danh mục các cây có tác động đến ung thư, có tính sát trùng mạnh, làm mau lành vết thương. Vì vậy tác giả mới quyết định trồng, nghiên cứu cây lược vàng và cho xuất bản cuốn sách này.
II- CÂY LƯỢC VÀNG – THẦY THUỐC TRỨ DANH

Có thể nói các tính chất dược lý của các cây họ Thài lài đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu từ lâu, đầu tiên là ở Trường đại học Tổng hợp Ha vớt, Mỹ và ở Canada. Họ nghiên cứu các cây ở rừng nhiệt đới Trung và Nam Mỹ. Chính những khu vực này đã ban tặng rất nhiều cây trồng tại nhà là thảo dược: Alocazia, vài biệt dạng của Aloe, Kalankhoe, Trađeckanzia, Zebrina, Paxiflora…Trong quá trình nghiên cứu thảo dựợc vùng Mexico, các nhà khoa học Mỹ và Canada đã chú ý đến cây lược vàng vì dịch của nó chứa một lượng lớn hoạt chất sinh học, trong đó nhiều hoạt chất tương tác với các tế bào ung thư. Những nghiên cứu theo hướng này vẫn tiếp tục cho đến ngày nay .

Ở Nga, các nhà khoa học Trường đại học Y Irkutxk tiến hành nghiên cứu cây lược vàng từ những năm 80 của thế kỷ trước, dưới sự lãnh đạo của giáo sư Xêmênov. Trong các nghiên cứu này nổi nhất là công trình của Victo Vaxilievitr Têliatrev - tác giả cuốn sách “Các thảo dược hoang dại vùng Đông Xibiri”. Các công trình của họ cho thấy cây lược vàng thật sự có những tính chất dược lý mạnh do chứa lượng lớn các chất có hoạt tính sinh học . Hiện nay các nhà khoa học khoa sinh vật học của Trường đại học tổng hợp Quốc gia Xanh - Petecbua mang tên Ghectxen vẫn đang tiến hành nghiên cứu ở lĩnh vực này.

Trong dịch cây lược vàng chứa các chất có hoạt tính sinh học thuộc các nhóm Flavonoit (Flavonol) và Xteroit (Fitoxterol).

FLAVONOIT – là chất chứa trong thực vật bậc cao. Đa số chúng là những sắc tố tạo màu cho các bộ phận của thực vật, số khác là những phần tử gốc của các chất dùng thuộc da. Một số flavonoit có tác dụng sát trùng và có hoạt tính vitamin P, chúng được dùng trong công nghiệp dược phẩm để chế biến các phẩm màu, các chất chống ôxy hóa thực phẩm, các chất khử trùng. Flavonoit chứa trong cây lược vàng có 2 đại diện là Kvertxetin và Kempferol.

KVERTXETIN (3,4,5,7 tetrahydroflavonol) có hoạt tính vitamin P và chống khối u; có tác dụng chống co thắt, chống oxy hóa, lợi tiểu. Nó được sử dụng chữa các bệnh huyết khối, dị ứng, xuất huyết võng mạc mắt, rối loạn hoạt động mao quản, phong thấp, viêm thận, cao huyết áp, sởi, sốt phát ban, sốt cao.

KEMPFEROL (Kaempferol) có tác dụng tăng sức đề kháng, làm bền mao quản, lợi tiểu, thải muối Natri. Điểm đặc trưng của nó là các tính chất kháng viêm. Nó được sử dụng trong điều trị rối loạn hệ thống niệu đạo, chữa dị ứng, tham gia vào thành phần các phương thuốc kháng viêm.

XTEROIT (Fitoxterol) - Xteroit chứa trong thực vật gọi là Fitoxterol. Những xteroit này là những chất điều hòa sinh học đời sống thực vật; chẳng hạn nếu ngừng tổng hợp xteroit sẽ làm ảnh hưởng sự ra hoa của các thực vật bậc cao. Chúng cũng có mặt rộng rãi trong cơ thể động vật và người, có chức năng của các chất điều hòa sinh học như là các vitamin nhóm D, các axit mật, các nội tiết tố dạng xteroit.

BETA- SITOSTEROL thuộc nhóm liên kết hóa học của Fitoxterol, có hoạt tính extroghen (nội tiết tố sinh dục nữ - có ảnh hưởng đến việc tổng hợp sinh học bạch cầu), có tác dụng chống khối u, chống ung bướu, kháng khuẩn. Beta - sitosterol được sử dụng khi bị rối loạn trao đổi chất (thành phần colesterin tăng cao), chữa các bệnh hệ nội tiết, viêm tuyến tiền liệt, u tuyến tiền liệt. Hiện nay việc nghiên cứu hoạt tính chống ung bướu của chất này đang được đẩy mạnh.

Ngoài những hợp chất sinh học, trong dịch của cây lược vàng còn có những nguyên tố quan trọng đối với cơ thể người, như: crôm, niken, sắt, đồng. Crôm tồn tại trong cơ thể người với số lượng cực nhỏ, nhưng có tác dụng rộng rãi trong điều trị vi lượng. Sắt tham gia thành phần huyết sắc tố, nếu cơ thể thiếu sắt sẽ dẫn đến bệnh thiếu máu. Đồng tương tự như sắt, tham gia vận chuyển ôxy, bảo đảm dự trữ ôxy ở não trong quá trình hô hấp tế bào; các Ion đồng tham gia thành phần của rất nhiều men để điều hòa các quá trình trao đổi, tham gia hình thành mô xương; gần đây đồng được sử dụng rộng rãi trong y học dân tộc.

Như vậy, cây lược vàng thực sự ” NHƯ VÀNG” nhìn từ góc độ nó chứa nhiều hoạt chất sinh học và những nguyên tố cần thiết cho cơ thể con người.

Nhưng lâu nay, điều gì đó không giải thích được hoặc lạ lẫm thường được gọi là điều kỳ diệu. Sự xuất hiện cây lược vàng - một thảo dược quý cũng là điều rất lạ. Gần đây người ta hay đồn đại những loại thuốc chữa bách bệnh, có loại trở thành mốt, nhiều người kỳ vọng vào tác dụng thần diệu của chúng, song đa số lại nhận được các kết quả ngược lại.

Trên đời này, thuốc thần diệu không tồn tại, vị tất đến lúc nào đó nó sẽ xuất hiện. Điều này đúng với các loại thuốc mới cũng như các loại đã quen biết. Vì vậy, với mỗi cơ thể riêng biệt đòi hỏi cách tiếp cận riêng biệt, nhất là đối với trẻ em vì chúng cần liều lượng và nồng độ thuốc nhỏ hơn rất nhiều so với người lớn.

Về cây lược vàng các chuyên gia đều cảnh báo, không phải là cây thuốc vạn năng, các tính chất dược lý của nó chưa được phát hiện đầy đủ và cũng chưa thể kết luận chính xác những chất nào đã tạo cho nó có những phẩm chất dược lý tuyệt vời.Và cho dù có như vậy, nhưng cùng một hoạt chất, lúc này có thể là thuốc, nhưng lúc khác lại là chất độc. Chẳng hạn, có trường hợp uống thuốc từ cây lược vàng thanh quản bị tổn thương, dẫn đến giọng nói bị khàn và việc trị liệu trở nên khó khăn; có trường hợp trẻ em 6 tuổi bị bệnh hen, uống thuốc theo toa dùng cho người lớn đã bị ngộ độc. Vì vậy khi dùng thuốc, dù uống trong hay bôi ngoài cũng cần chuyên gia tư vấn.

Tuy nhiên phải khảng định, việc nghiên cứu các tính chất dược lý của cây lược vàng đã đạt được kết quả to lớn, nhiều phác đồ điều trị bằng thuốc chế từ cây này đã được xác định, việc nghiên cứu tiếp theo, đặc biệt là nghiên cứu hoạt tính chống ung bứơu đang được đẩy mạnh.

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

BỆNH VẨY NẾN CÓ CHỮA ĐƯỢC BẰNG CÂY LƯỢC VÀNG

Tháng 8 năm 2010, tôi mua cuốn “Cây Lược vàng quý hơn vàng” đọc hết, biết nhiều tác dụng chữa bệnh của nó. Nhưng cũng như nhiều người khác, tuy tin tưởng, tôi vẫn muốn được kiểm chứng, dù chỉ là một loại bệnh. May sao, tôi đã thực hiện được ý định này.

Tháng 2-2010, Chị Trần Thị T, 48 tuổi ở số nhà 206, tầng 2, nhà A4 Tập thể Dệt Kim, phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội bị mẩn ngứa, xuất hiện các lớp vẩy ở hai khuỷu tay, lan dần ra hai thái dương, tóc rụng nhiều khi chải đầu. Nghĩ là bệnh ngoài da bình thường, chị rửa cồn, bôi thuốc mỡ không đỡ, đến Bệnh viện Da Liễu Hà Nội khám, xét nghiệm, được kết luận là viêm da cơ địa + rụng tóc, được điều trị bằng kem bôi và thuốc uống. Đột nhiên, đầu tháng 4 năm 2010 bệnh phát triển rất nhanh: Lớp vẩy lan ra hai tay, khắp người, cổ, mặt, toàn thân trông rất sợ, đầy vẩy, dưới lớp vẩy ứa máu, ngứa ngáy toàn thân, tóc rụng từng mảng, chị luôn phải mặc áo dài, đội mũ. Cả nhà vô cùng lo lắng, đưa đi khám lại và được kết luận là vẩy nến thể mảng, lại được điều trị bằng kem bôi và thuốc uống. Chị phải nghỉ bán hàng, người hốc hác, khó chịu, phải nằm thường xuyên, kiên trì uống thuốc, chấm bôi thuốc mỡ khắp người, vẩy rụng ra hàng vốc lại mọc mà không đỡ.
Sốt ruột, nghe mách bảo, tháng 6-2011 chị đi khám Đông y Nguyễn Bỉnh Khiêm, uống hơn 30 thang thuốc, không thay đổi gì, lại quay lại khám Bệnh viện Da liễu được cấp thuốc mỡ, kem bôi và thuốc uống, kiên trì từ tháng 7 đến hết tháng 10-2010. Tháng 11-2010 chị chuyển sang khám tại Viện Da liễu Quốc gia (tại Bệnh viện Bạch Mai), sau khi sinh thiết, vẫn được kết luận là vẩy nến thể mảng, được cấp kem bôi và thuốc uống, tiếp tục kiên trì điều trị. Trong quá trình điều trị, chị còn được chạy xạ hai đợt tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội, mỗi đợt 5 ngày, mỗi ngày khoảng 5 phút, người đỏ như tôm luộc.
Tuy biết vẩy nến không nguy hiểm ngay đến tính mạng, hiện chưa có thuốc đặc hiệu điều trị, có khi phải “chung sống”, nhưng cả gia đình chị hết sức lo lắng, vì chị là trụ cột chính của gia đình, lại phải nằm bẹp một chỗ.
Tháng 10-2010 tôi đến thăm chị. Lần đầu tiên nhìn thấy bệnh vẩy nến tôi cũng ghê sợ. Cầm trên tay cuốn sổ y bạ kẹp hơn hai chục tờ giấy xét nghiệm, đơn thuốc, hóa đơn; nhìn chị ngồi thu lu, rúm ró trên giường tôi ái ngại khuyên chị thử dùng cây Lược vàng và đưa cho chị cuốn “Cây Lược vàng quý hơn vàng” bản phô-tô, dặn đọc kĩ những trang đánh dấu về chữa bệnh vẩy nến.
Gần Tết Tân Mão (2011), người nhà chị ở Nam Định gửi đến một bao tải dứa cây Lược vàng, chủ yếu là thân, vòi nhờ tôi ngâm rượu. Còn lá chị cho vào nhiều túi ni-lông, để vào tủ lạnh, dùng dần. Đúng 28 Tết, chị bắt đầu sử dụng: Ngày ăn 6 lá (lá dài trên 20cm), chia 3 lần trước bữa ăn 20 phút. Đập giập lá, lấy bã và nước xoa xát khắp người. Tạm dừng sử dụng các loại thuốc Tây. Sau 5 ngày, chị thấy người thay đổi: Toàn thân như căng ra, nhất là chân, tay, da căng mọng, chân các vẩy rớm máu, rất khó chịu. Đó là phản ứng có tác dụng như sách đã nói, thông báo cho tôi biết và tiếp tục kiên trì sử dụng. Thời gian tiếp theo là những tin đáng khích lệ: Toàn thân dịu dần, vẩy không ứa máu, tắm nước nóng ấm hằng ngày vẩy rụng rất nhiều, người thấy dễ chịu. Sau hai tháng, vẩy rụng hết, các vết bắt đầu lên da non, tóc không còn rụng. Chị sử dụng thêm rượu Lược vàng xoa khắp chỗ bị vẩy nến. Tháng 4-2011, da chân tay trở lại bình thường, sức khỏe hồi phục, chị lại đi bán hàng. Tháng 6-2011, chị cùng chồng, con đến thăm tôi, vui tươi, khỏe mạnh hơn trước, có thể do trút được gánh nặng lo âu về căn bệnh khó chịu chăng? Tôi khuyên chị duy trì sử dụng cho đến khi khỏi hẳn và tiếp tục dùng phòng bệnh tái phát.
Gia đình và họ hàng chị cũng vô cùng phấn khởi, có người nói: “Đó là thuốc tiên dành cho người nghèo và mọi nhà đều phô-tô cuốn “Cây Lược vàng quý như vàng”, để sử dụng. Ngoài ra, một người trong họ từ tháng 5-2011 sử dụng Lược vàng để chữa trị biến chứng tiểu đường, đến nay đã có nhiều chuyển biến khả quan: Đường huyết hạ, mắt đỡ biến chứng, đang dần hồi phục.
Còn chị T bệnh nhân vẩy nến, yên tâm vui vẻ ăn Tết Nhâm Thìn. Tôi thực sự vui lây và muốn chuyển lời cảm ơn của gia đình họ đến Báo Người cao tuổi, đến tác giả cuốn sách “Cây Lược vàng quý như vàng”

Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2013

BÁC SĨ CHỮA BỆNH VẨY NẾN TỐT NHẤT

THUỐC CHỮA BỆNH VẨY NẾN TỐT NHẤT HIỆN NAY




Bệnh chưa có thuốc để chữa tuyệt. Thỉnh thoảng, có trường hợp bệnh tự biến đi một thời gian. Trong hầu hết các trường hợp, bệnh biết nó làm khổ người bệnh, nhưng mặc, nó vẫn tiếp tục.   
Các cách chữa trị nhắm mục đích ngăn, kiểm soát căn bệnh, chứ không trị dứt được bệnh. Sự trị liệu tùy nhiều yếu tố: bệnh loại nào, nặng hay nhẹ, nổi ở đâu, tuổi tác và sức khỏe, ý thích của người bệnh (sự tốn kém, bất tiện của việc chữa trị, …). Người có những vết psoriasis ở đầy thân, trên 5-10% diện tích da cần những cách chữa mạnh hơn người bệnh nhẹ, những vết psoriasis chiếm dưới 5-10% diện tích da. Những trường hợp nặng thường cần được chữa bởi bác sĩ chuyên khoa Da.
THUỐC CHỮA BỆNH VẨY NẾN TỐT NHẤT HIỆN NAY
THUỐC CHỮA BỆNH VẨY NẾN TỐT NHẤT HIỆN NAY

Thời gian điều trị kéo dài nhiều tháng đến nhiều năm. Một điểm nữa, khó có cách trị liệu nào hiệu nghiệm trăm phần trăm. Và chúng ta cũng đã biết, căng thẳng tinh thần thường làm bệnh nặng hơn, nên làm cách nào cho tâm tĩnh, căn bệnh có thể sẽ lui một phần. Vì bệnh tạo sự buồn tủi, chán đời trên một số người bệnh, những vị này có khi cần thêm sự an ủi nâng đỡ về tinh thần, hoặc các thuốc chữa buồn sầu.

Cách chữa tại chỗ

Cách chữa tại chỗ (topical therapy) bằng các thuốc bôi, rẻ tiền hơn cả, dùng cho những trường hợp bệnh nhẹ.
Thông dụng nhất là các thuốc bôi chứa chất steroid (như Elocon, Kenalog, Lidex, Diprolene, … ), thoa lên chỗ có vết psoriasis.
 Thuốc bôi chứa chất steroid làm giảm viêm, khiến các vết psoriasis trên da mờ đi và bớt ngứa. Thuốc bôi chứa chất steroid có 7 nhóm, xếp theo mức độ mạnh yếu khác nhau. Mạnh hay yếu, chúng đều có chỗ đứng của chúng. Các thuốc có tác dụng yếu hơn được dùng ở trên mặt và những chỗ như nách, háng, các thuốc tác dụng mạnh dùng ở thân và tay chân.
Thuốc có nhiều dạng: dạng kem (cream), dạng nhờn (ointment), dạng nước (lotion). Dạng nước thuận tiện cho việc chữa các vết psoriasis ở đầu. Dạng nhờn tốt cho những chỗ da khô và ngứa. Có điều, vào mùa hè, da bạn hay bị nóng và chảy mồ hôi, làm thuốc bôi dạng nhờn trôi đi, mất tác dụng. Điểm bất lợi khác của thuốc dạng nhờn là thuốc lộ rõ trên da khi bạn dùng thuốc. Thuốc thoa steroid dạng kem (cream) tuy không tác dụng mạnh như thuốc dạng nhờn, song thấm vào da và không lộ rõ.
Vì thuốc thấm vào da dễ hơn khi da ta còn ẩm, nên thoa thuốc sau khi tắm tốt hơn thoa thuốc vào những lúc khác. Lúc thích hợp nhất để thoa thuốc là trước lúc vào giường buổi tối. Nếu trên da đầu bạn cũng có những vết psoriasis, bạn nên thoa thuốc sau lúc gội đầu.
Nếu bạn chỉ có vài vết psoriasis nhỏ trên da, một mũi chích chứa chất steroid có thể sẽ giúp những chỗ da dầy lên xấu xí này mau chóng biến mất, và không xuất hiện trở lại cũng được đến nhiều tháng.
Ngoài những thuốc bôi chứa chất steroid, nhiều thuốc bôi khác cũng được dùng để chữa psoriasis: calcipotriene, tazarotene, coal tar,tacrolimus, pimecrolimus, ...
Ngoài ra, da có vẩy nến cần được giữ luôn mềm và ẩm, vì vậy các nước lotion giúp chống khô da (emollients) cũng rất tốt trong việc trị liệu. 

Trị liệu bằng ánh sáng (phototherapy)

Dùng cho những người bị nặng, các vết psoriasis hơn 5-10% diện tích da.
Từ lâu, người ta đã nhận thấy ánh nắng mặt trời tốt cho da những người bị psoriasis. Bằng chứng, psoriasis thường dịu đi vào mùa hè, trong nắng hè rực rỡ. (Bạn cũng có thể phơi nắng để tự chữa, nhưng cẩn thận đừng để bị phỏng nắng. Bạn nhớ thoa kem chống nắng trên những vùng da không bị psoriasis). Nguyên tắc này được ứng dụng trong sự chữa trị psoriasis với các tia cực tím A và B (ultraviolet A and B).
Sự trị liệu bằng các tia cực tím A hay B, tuy hữu hiệu, nhưng đặt ra một số vấn đề phức tạp. Người bệnh phải tới phòng mạch bác sĩ chuyên khoa về da mỗi tuần 2 hoặc 3 lần, để được trị liệu 20-30 lần. Sau đó, khi các vết psoriasis đã biến mất, vẫn phải được chữa trị đều mỗi tuần hoặc mỗi tháng trong nhiều năm. Do đó, thời giờ và tiền bạc bỏ ra không phải là ít.
Khi dùng tia cực tím A, để làm tăng hiệu quả của sự trị liệu, người bệnh thường được cho dùng thêm chất thuốc có tên psoralen, giúp da hấp thụ thêm tia cực tím A.  Do đó, sự trị liệu này có tên tắt là PUVA (Psoralen + UtraViolet A). PUVA rất hiệu nghiệm, diệt sạch các vết psoriasis đến 85-90% các trường hợp. Có điều về lâu về dài, trị liệu PUVA dễ đưa đến ung thư da, nên da người bệnh cần được theo dõi kỹ. Người bệnh cũng cần được khám mắt mỗi năm khi chữa bằng phương pháp PUVA.

Thuốc uống, thuốc chích

Cách chữa bằng thuốc uống hoặc thuốc chích cũng dùng cho những trường hợp bệnh nặng, các vết psoriasis hơn 5-10% diện tích da.
Hiện 3 thuốc uống thường dùng để chữa những trường hợp bệnh nặng là methotrexate, acitretin và cyclosporineCác thuốc chích alefacept, efalizumab, etanercept, infliximab cũng được một số bác sĩ chuyên khoa Da dùng chữa bệnh vẩy nến nặng.
Các thuốc uống, chích kể trên gây rất nhiều phản ứng độc hại, và thường đắt, chỉ nên được sử dụng bởi bác sĩ chuyên khoa Da.
Psoriasis là một căn bệnh kinh niên, đa dạng, làm khổ nhiều người, nên nhiều giấy mực và công trình nghiên cứu đã đổ ra vì nó. Cũng may, nó không lây. Tùy hình thái bệnh nhẹ hay nặng, ta có nhiều cách chữa trị khác nhau để ngăn chặn căn bệnh (tuy thỉnh thoảng cũng có trường hợp bệnh tự nó biến mất một thời gian không cần chữa trị). Bệnh nhẹ chữa bằng các kem, pom mát, nước thoa, bệnh nặng cần những trị liệu đặc biệt và theo dõi thường xuyên bởi bác sĩ chuyên khoa về da.


BIỂU HIỆN CỦA BỆNH VẨY NẾN


Đặc điểm bệnh rất dễ nhận thấy bởi những tổn thương riêng lẻ có giới hạn rõ. Người bệnh thấy xuất hiện các đám mảng đỏ kích thước khác nhau, từ vài milimet đến vài chục centimet, hơi gồ cao, nền cứng cộm. 

Vảy nhiều tầng, nhiều lớp, dễ bong, khi cạo vụn ra như bột phấn, như vết nến rơi lả tả. Vảy tái tạo rất nhanh, số lượng nhiều. Thương tổn mới xuất hiện trên các vùng bị kích thích như gãi, tiêm, mổ; kích thích lý hóa... thường xuất hiện đầu tiên ở vùng da đầu và vùng bị tỳ đè, sau vành tai, khuỷu tay, đầu gối, hông, vùng cơ quan sinh dục.


Đôi khi bệnh lan khắp cơ thể. Có khi còn gặp vảy nến ở nếp gấp hay dạng đỏ da lan tràn toàn thân và khó điều trị. Móng tay, lông mày, rốn, hậu môn cũng thường bị bệnh trong 60% các trường hợp.


Vảy nến là bệnh không lây lan (trừ khi bệnh xâm nhập xương khớp hoặc nhiễm độc), không gây ảnh hưởng xấu cho sức khỏe, chỉ ảnh hưởng tâm lý, buồn phiền vì da... chẳng giống 





Thứ Năm, 13 tháng 6, 2013

NGUYÊN NHÂN GÂY RA BỆNH VẨY NẾN




Triệu chứng của bệnh vảy nến thay đổi tùy theo loại bệnh bạn mắc. Một số triệu chứng thông thường của bệnh vẩy nến mảng – dạng phổ biến nhất của bệnh, bao gồm: 
BÁC SĨ GIỎI NHẤT CHỮA BỆNH VẨY NẾN BẰNG ĐÔNG Y
  • Những vùng màu đỏ, da tấy đỏ, thường xuyên bị bao bởi những vảy xốp, màu bạc. Những mảng này có thể gây ngứa và đau, đôi khi bị nứt và chảy máu. Trong những trường hơp nghiêm trọng, vùng da bị kích thích sẽ phát triển và nhập vào vùng khác, bao phủ một vùng lớn.

  • Sự rối loạn ở móng tay và móng chân, bao gồm sự đổi màu và các vết lõm trong móng. Móng cũng có thể bắt đầu bị vỡ và tách ra khỏi nền móng.
  • Vùng da đầu có vảy da hoặc vảy cứng. 
  • Những vùng nhỏ bị chảy máu khi da bị trầy xước.
  •  Bệnh vảy nến cũng có thể liên hệ với bệnh viêm khớp vảy nến, dẫn đến những cơn đau và sưng tấy ở khớp. Tổ chức nghiên cứu bệnh vảy nến quốc gia ước đoán khoảng 10-30% người mắc bệnh vảy nến cũng sẽ mắc bệnh viêm khớp vảy nến.
Cho những triệu chứng hiếm gặp hơn của bệnh vảy nến, hãy xem bài tổng quát sau:

Nguyên nhân làm bệnh vảy nến tái phát?

Trong khi những nguyên nhân tiềm tàng của bệnh vảy nến bắt nguồn từ hệ miễn dịch của cơ thể, những tác nhân kích thích nhất định có thể làm cho bệnh nặng hơn và tái phát. Bao gồm:
  • Thời tiết khô và lạnh. Thời tiết như thế có thể làm da bạn bị khô, làm cơ hội cho bệnh tái phát cao hơn. Ngược lại, thời tiết nóng, nhiều nắng có thể giúp kiểm soát các triệu chứng của bệnh ở đa số người.
  • Căng thẳng. Mắc bệnh vảy nến có thể tự gây ra căng thẳng và bệnh nhân thường báo cáo rằng các triệu chứng của bệnh bộc phát đặc biệt trong suốt thời gian căng thẳng đó.
  • Một số loại dược phẩm. Những loại thuốc nào đó, như là lithium (một cách điều trị phổ biến cho rối loạn lưỡng cực), thuốc sốt rét, và một vài loại thuốc beta-blocker (dùng để trị chứng cao huyết áp, bệnh tim, và một số chứng loạn nhịp tim) có thể làm bệnh vảy nến bộc phát.
  • Nhiễm trùng hay bệnh. Những loại bệnh nhiễm trùng nào đó, như viêm họng hay viêm amiđan có thể gây bệnh vảy nến giọt (guttate psoriasis) và những loại bệnh khác. Bệnh vảy nến có thể nặng thêm ở những người mắc bệnh HIV.
  • Tổn thương da. Ở một số người mắc bệnh vảy nến, tổn thương da – bao gồm đứt, bầm tím, bỏng, u bướu, tiêm chủng, vết xăm và những loại khác – có thể làm cho bệnh vảy nến bộc phát ở nơi bị tổn thương. Tình trạng này được gọi là “hiện tượng Koeboner”.
  • Chất có cồn. Sử dụng chất có cồn có thể gia tăng nguy cơ tái phát bệnh, chí ít là ở đàn ông.
  • Hút thuốc. Một số chuyên gia cho rằng hút thuốc có thể làm bệnh vảy nến nặng thêm.