“CÂY LƯỢC VÀNG QUÝ NHƯ VÀNG” được biên
soan dựa trên cuốn sách “Cây lược vàng chống lại 100 bệnh” của Alecxanđr
Korođetxki - thầy thuốc và nhà năng lượng học thực vật, chuyên gia nổi
tiếng về trị bệnh bằng thảo dược, xuất bản năm 2004, nhằm cung cấp cho
ban đọc thông tin CÂY LƯỢC VÀNG thật sự ”như vàng” nhìn từ góc độ cây
chứa nhiều hoạt chất sinh học quý và các nguyên tố cần thiết cho cơ thể
con người (trang 25), đồng thời với nghĩa có thể chữa hoặc giảm nhẹ
nhiều bệnh, nhất là các bệnh mãn tính..
Tuy nhiên cây lược vàng không phải là cây thuốc vạn năng, các tính chất dược lý của nó còn chưa được phát hiện đầy đủ (trang 20), vì vậy việc nghiên cứu tác dụng của cây, nhất là tác dụng chống ung bướu vẫn đang tiếp tục đẩy mạnh (trang 21).
Đây là một trong 14 cuốn sách ghi nhận được từ trang web của Nga. Điều này giải thích tại sao cây lược vàng ban đầu chỉ là cây cảnh lại giành được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và sự mến mộ của đông đảo người Nga, nay lại được nhân dân nhiều nơi trong nước biết đến nhờ thông tin của người dân và Câu lạc bộ Hàm rồng Thanh Hóa. Nhưng đáng tiếc, cho đến thời điểm diễn ra Hội thảo về cây lược vàng ở Thanh Hóa (4/2008) thì những thông tin từ nước ngoài lại không đến được ngay cả một số nhà khoa học, người quản lý nhà nước về Y tế, người đứng đầu các cơ quan nghiên cứu dược chuyên ngành, nên không có những định hướng mang tính khoa học trong dư luận về cây này.
Cuốn sách được viết dưới dạng chuyện kể của các chuyên gia và nhà khoa học có uy tín. Nó có nội dung phong phú và bao quát; thông tin khách quan, toàn diện.
Khi biên soạn, một số chương, phần ít liên quan đến chủ đề chính đã được lược bỏ, phần còn lại được tóm tắt, sắp xếp lại ý tứ và bố cục cho phù hợp nhằm làm cho tài liệu ngắn ngọn để bạn đọc tiện khai thác.
Cây lược vàng dễ trồng, dễ chế biến, dễ sử dụng và bảo quản. Nó là cây thuốc “ trứ danh”, là “thầy thuốc” tại nhà. Hy vọng trong tương lai không xa sẽ là “cứu cánh” cho nhiều người, nhất là những người có hoàn cảnh kinh tế eo hẹp.
Mong bạn đọc là “bác sĩ tốt nhất của chính mình” - áp dụng sáng tạo những kiến giải trong sách, rút kinh nghiệm để tìm ra các phương thuốc phù hợp nhất với cơ địa của mình; đồng thời là “người tiêu dùng thông minh” khi lựa chọn và sử dụng không chỉ cây lược vàng mà cả một số phương thuốc (Đông, Tây y) để trị bệnh thường được quảng cáo quá mức hoặc có giá quá đắt.
I- BÍ MẬT CỦA CÂY LƯỢC VÀNG
Bà Valetina Ivanovna, bạn cũ có cùng đam mê nghiên cứu thảo dược, đưa đến cho tác giả của cuốn sách này (Alekxanđr Korođetxki) lọ kem có tên Đikhorizandra 1 đã gây cho ông sự chú ý đặc biệt.
Trên nhãn tự làm có ghi: “Kem chứa dịch của cây Đikhorizanđra (xin gọi tắt là Đikhora).Trong thân và lá cây chứa các chất như: Pectin, Carotinoit, Catêkhin, Flavonoit có tác dụng chống viêm, giảm đau, làm lành vết thương, kháng khuẩn, tạo miễn dịch. Dùng ngoài chữa viêm khớp, hư khớp, thoái hóa đốt sống, đau dây thần kinh, dập thương tụ máu, loét do dinh dưỡng, mụn nhọt, bong gân. Có thể sử dụng để mát xa. Tăng nhanh tái sinh mô, tránh tổn thương da do nấm, ngăn ngừa bọ có cánh (ruồi, muỗi, bọ đất)”.
Căn cứ vào nhãn thuốc, loại kem này được chế biến ở thành phố Nôvôxibirxk. Bà bạn kể: Có một người đàn ông đại diện cho một xí nghiệp đến xin tư vấn về cây Đikhora nào đó trồng tại nhà dùng làm thuốc. Nhưng trong số trên 5 dạng cây do bà đang trồng trong nhà kính, đâu là Đikhora thì người này bối rối và cho biết tên dân gian của cây thuốc là “CÂY RÂU VÀNG”
Vậy là tên này có liên quan đến một cây trồng hoàn toàn khác. Điều ngạc nhiên hơn là những người định chế biến loại thuốc từ cây mà họ chưa nhìn thấy tận mắt và cũng chưa gọi đúng tên của nó.
Bà đã kể cho anh ta nghe những điều về các cây mà bà biêt. Bà nhận lọ kem rồi mang đến cho tác giả của cuốn sách này làm tin và cho rằng ông là người nổi tiếng, nên viết sách về cây thuốc trứ danh này để mọi người đều biết. Đó là động lực để tác giả tìm kiếm thông tin giải đáp bí mật của “Cây lược vàng”.
Cây râu vàng - cây sâm nhà - cây râu viễn đông - cây ngô - cây tóc tươi,…tất cả chỉ là một loại cây có tên khoa học là Kallizia thơm, tên la tinh là Callisia fragrans.
Kallizia cũng như Đikhora thuộc họ Thài lài (Commelinaceae). Những cây thuộc họ này mọc hoang thành bụi ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của Châu Mỹ, Châu Á, Châu Phi và Úc. Những cây tiêu biểu được trồng rộng rãi làm cảnh, chúng có nhiều tính chất của thảo dược. Cây Đikhora không có râu(vòi), chưa được nghiên cứu nhiều, còn cây Kallizia thơm có râu(vòi) và rất nổi tiếng.
Năm 1840 lần đầu tiên cây Kallizia thơm được mô tả với tên Spironema fragrans. Năm 1932 đổi tên thành Rectanthera fragrans. Năm 1942 R.E. Woodson đặt tên cho cây là Callísia fragrans. Cây có 12 loại mà đại diện của chúng mọc ở vùng Trung và Nam Mỹ.
Kallizia thơm - Callisia fragrans - Cây râu vàng – Từ đây sẽ dùng tên đã phổ biến ở Việt Nam là CÂY LƯỢC VÀNG. Nhưng xét về hình dáng bên ngoài thì dùng tên CÂY LAN VÒI do người dân Thanh Hóa đặt là hợp lý hơn cả (người biên dịch).
Cây lược vàng – cây mọc hoang thành bụi, sống lâu năm, có chiều cao tới 2m, cây trồng tại nhà có chiều cao tới 1m. Cây có lá to, dài khoảng 20-30cm, rộng khoảng 5- 6cm; phía trên lá láng bóng, lá có màu xanh thẫm. Cây có 2 loại: loại trổ các nhánh thẳng lên trên trông như cây ngô non, loại trổ các vòi(râu) nằm ngang, các vòi này phân thành các đốt bởi các mấu, trên các mấu phát ra lá nhỏ dạng vẩy, tận cùng vòi là búp. Hoa của cây rất nhỏ, trổ thành chùm ở trên ngọn và có mùi thơm dịu. Cây mọc hoang ra hoa vào năm thứ 2, còn cây trồng tại nhà thì điều này hiếm gặp. Cây có nguồn gốc từ Mexico.
Hiện nay những bí mật của cây lược vàng chưa được khám phá đầy đủ, nhưng có thể dẫn ra vài phát hiện khởi đầu từ hai mẩu chuyện nhỏ sau đây:
1) Tác giả của cuốn sách này có người bạn mà vợ ông ta tên Natalia, từng làm ở viện nghiên cứu khoa học với nghề trồng cây cảnh và kết hoa khô. Bà ta đã chỉ dẫn cho tác giả xem và cung cấp cặn kẽ thông tin về Cây lược vàng và kể một chi tiết thú vị: Cách đây ít năm, khi mọi người còn chưa biết những tính chất chữa bệnh của cây này thì một cô giáo dạy sinh vật khi nhìn thấy đã rất ngạc nhiên và xin ngay một búp nhỏ làm tiêu bản cho bộ môn để triển khai đề tài “Nhân bản vô tính”. Không lâu sau, cây phát triển rất nhanh và nhân rộng trong toàn trường. Đặc biệt con vẹt nuôi trong phòng văn hóa rất yêu thích cây này và chính nó là tác giả đầu tiên phát hiện các tính chất kỳ diệu của cây thuốc; vì như mọi người đều biết các động vật, nhất là chim thú không bao giờ nhầm lẫn cái lợi, cái hại.
2) Khi thu thập tài liệu để viết cuốn sách này, tác giả đã liên hệ với nhà sinh vật học – thầy thuốc nội khoa thực vật Đmitri Xvetrkin, là bạn cũ, đã đôi lần cùng chia sẻ thông tin về cây trồng. Ông đã cho tác giả xem nhà kính trồng cây lược vàng, giới thiệu tính đa năng của cây, chỉ ra những vấn đề chưa được nghiên cứu tận gốc, đồng thời kể lai lịch một phương thuốc gia truyền độc đáo:
Như đã biết, ngay từ những năm 20 của thế kỷ trước, các nhà khoa học Mỹ đã chú tâm nghiên cứu các truyền thuyết của cư dân Mỹ La tinh về thảo dược, thu thập được một khối lượng tài liệu đồ sộ làm cơ sở nghiên cứu. Đã điều tra hơn 30.000 loại cây, phát hiện trong số đó nhiều loại có những tính năng chữa bệnh có một không hai mà dân địa phương đã sử dụng trong nền y học của họ.
Bản thân ông Đmitri đã quan tâm và tìm thấy ở các công trình nghiên cứu của các đồng nghiệp Mỹ nhiều điều bổ ích cho công việc của minh, đặc biệt là câu chuyện về cây Pauk (Spider plant). Nó được mô tả là cây có những tính chất chống viêm các mô và làm vết thương mau lành tuyệt vời. Đó là trường hợp một nhà khoa học trong đoàn thám hiểm đã bị nhiều vết thương rất nặng. Với khí hậu nóng ẩm, các vết thương bắt đầu sưng tấy, trong khi đó cơ sở y tế của thành phố lớn lại quá xa, dân địa phương mách bảo đến nhờ bà lang vườn có bài thuốc trị vết thương, kể cả vết cắn của thú độc. Các thành viên của đoàn thám hiểm buộc phải chấp nhận sự giúp đỡ đó, hơn nữa chính họ cũng đang tiến hành nghiên cứu các cây thuốc của Mexico, có kế hoạch thu thập thông tin về các thảo dược và cách sử dụng chúng.
Khi đó họ rất ngạc nhiên khi bà lang ra sân hái mấy lá của một cây lạ, cao chừng 1mét, từ thân cây trổ ra các vòi nằm ngang gần như không màu, phủ bởi các vẩy lá và tận cùng là búp non. Lá đem rửa sạch, cho vào cối giã kỹ, nhũ nhuyễn thu đựợc bà đem đắp lên các vết thương và buộc lại bằng băng gạc của đoàn vì họ không tin dẻ buộc của bà lang vô trùng. Sau 3 ngày bệnh nhân thấy đỡ, các vết sưng tấy xẹp đi, miệng các vết thương bắt đầu xe lại, cứ mỗi ngày thay băng 1 lần. Sau một tuần lễ đoàn thám hiểm lại tiếp tục hành trình và mang theo nước sắc của lá. Bà lang cho biết cây còn có tác dụng giảm đau xương khớp, chữa được mụn nhọt, điều hòa hoạt động đường ruột.
Tuy nhiên những điều kỳ diệu của cây cần có thời gian kiểm chứng. Nhưng những gì diễn ra như : nước sắc của lá cây rõ ràng không bị thiu sau 3 tuần lễ, còn các vết thương hoàn toàn lành lặn trở lại là những bằng chứng xác thực để các nhà khoa học tin tưởng.
Vậy cây người dân Mexico gọi là cây Pauk chính là cây lược vàng và là chủ đề chính của cuốn sách này. Riêng ông Đmitri chỉ tin chắc điều đó sau khi nhìn thấy tận mắt và biết chính xác tên của cây ở nhà kính của vườn bách thảo Luân Đôn. Ở nước ngoài cây lược vàng còn có tên”Cây sợi đan”,”Cây cái lẵng” hoặc như tên dân gian - ”Cây Pauk”.
Sau khi trao đổi với ông Đmitri, tác giả của cuốn sách còn tiếp cận với các ấn phẩm của các nhà khoa học nước ngoài, biết rằng nó được đưa vào danh mục các cây có tác động đến ung thư, có tính sát trùng mạnh, làm mau lành vết thương. Vì vậy tác giả mới quyết định trồng, nghiên cứu cây lược vàng và cho xuất bản cuốn sách này.
II- CÂY LƯỢC VÀNG – THẦY THUỐC TRỨ DANH
Có thể nói các tính chất dược lý của các cây họ Thài lài đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu từ lâu, đầu tiên là ở Trường đại học Tổng hợp Ha vớt, Mỹ và ở Canada. Họ nghiên cứu các cây ở rừng nhiệt đới Trung và Nam Mỹ. Chính những khu vực này đã ban tặng rất nhiều cây trồng tại nhà là thảo dược: Alocazia, vài biệt dạng của Aloe, Kalankhoe, Trađeckanzia, Zebrina, Paxiflora…Trong quá trình nghiên cứu thảo dựợc vùng Mexico, các nhà khoa học Mỹ và Canada đã chú ý đến cây lược vàng vì dịch của nó chứa một lượng lớn hoạt chất sinh học, trong đó nhiều hoạt chất tương tác với các tế bào ung thư. Những nghiên cứu theo hướng này vẫn tiếp tục cho đến ngày nay .
Ở Nga, các nhà khoa học Trường đại học Y Irkutxk tiến hành nghiên cứu cây lược vàng từ những năm 80 của thế kỷ trước, dưới sự lãnh đạo của giáo sư Xêmênov. Trong các nghiên cứu này nổi nhất là công trình của Victo Vaxilievitr Têliatrev - tác giả cuốn sách “Các thảo dược hoang dại vùng Đông Xibiri”. Các công trình của họ cho thấy cây lược vàng thật sự có những tính chất dược lý mạnh do chứa lượng lớn các chất có hoạt tính sinh học . Hiện nay các nhà khoa học khoa sinh vật học của Trường đại học tổng hợp Quốc gia Xanh - Petecbua mang tên Ghectxen vẫn đang tiến hành nghiên cứu ở lĩnh vực này.
Trong dịch cây lược vàng chứa các chất có hoạt tính sinh học thuộc các nhóm Flavonoit (Flavonol) và Xteroit (Fitoxterol).
FLAVONOIT – là chất chứa trong thực vật bậc cao. Đa số chúng là những sắc tố tạo màu cho các bộ phận của thực vật, số khác là những phần tử gốc của các chất dùng thuộc da. Một số flavonoit có tác dụng sát trùng và có hoạt tính vitamin P, chúng được dùng trong công nghiệp dược phẩm để chế biến các phẩm màu, các chất chống ôxy hóa thực phẩm, các chất khử trùng. Flavonoit chứa trong cây lược vàng có 2 đại diện là Kvertxetin và Kempferol.
KVERTXETIN (3,4,5,7 tetrahydroflavonol) có hoạt tính vitamin P và chống khối u; có tác dụng chống co thắt, chống oxy hóa, lợi tiểu. Nó được sử dụng chữa các bệnh huyết khối, dị ứng, xuất huyết võng mạc mắt, rối loạn hoạt động mao quản, phong thấp, viêm thận, cao huyết áp, sởi, sốt phát ban, sốt cao.
KEMPFEROL (Kaempferol) có tác dụng tăng sức đề kháng, làm bền mao quản, lợi tiểu, thải muối Natri. Điểm đặc trưng của nó là các tính chất kháng viêm. Nó được sử dụng trong điều trị rối loạn hệ thống niệu đạo, chữa dị ứng, tham gia vào thành phần các phương thuốc kháng viêm.
XTEROIT (Fitoxterol) - Xteroit chứa trong thực vật gọi là Fitoxterol. Những xteroit này là những chất điều hòa sinh học đời sống thực vật; chẳng hạn nếu ngừng tổng hợp xteroit sẽ làm ảnh hưởng sự ra hoa của các thực vật bậc cao. Chúng cũng có mặt rộng rãi trong cơ thể động vật và người, có chức năng của các chất điều hòa sinh học như là các vitamin nhóm D, các axit mật, các nội tiết tố dạng xteroit.
BETA- SITOSTEROL thuộc nhóm liên kết hóa học của Fitoxterol, có hoạt tính extroghen (nội tiết tố sinh dục nữ - có ảnh hưởng đến việc tổng hợp sinh học bạch cầu), có tác dụng chống khối u, chống ung bướu, kháng khuẩn. Beta - sitosterol được sử dụng khi bị rối loạn trao đổi chất (thành phần colesterin tăng cao), chữa các bệnh hệ nội tiết, viêm tuyến tiền liệt, u tuyến tiền liệt. Hiện nay việc nghiên cứu hoạt tính chống ung bướu của chất này đang được đẩy mạnh.
Ngoài những hợp chất sinh học, trong dịch của cây lược vàng còn có những nguyên tố quan trọng đối với cơ thể người, như: crôm, niken, sắt, đồng. Crôm tồn tại trong cơ thể người với số lượng cực nhỏ, nhưng có tác dụng rộng rãi trong điều trị vi lượng. Sắt tham gia thành phần huyết sắc tố, nếu cơ thể thiếu sắt sẽ dẫn đến bệnh thiếu máu. Đồng tương tự như sắt, tham gia vận chuyển ôxy, bảo đảm dự trữ ôxy ở não trong quá trình hô hấp tế bào; các Ion đồng tham gia thành phần của rất nhiều men để điều hòa các quá trình trao đổi, tham gia hình thành mô xương; gần đây đồng được sử dụng rộng rãi trong y học dân tộc.
Như vậy, cây lược vàng thực sự ” NHƯ VÀNG” nhìn từ góc độ nó chứa nhiều hoạt chất sinh học và những nguyên tố cần thiết cho cơ thể con người.
Nhưng lâu nay, điều gì đó không giải thích được hoặc lạ lẫm thường được gọi là điều kỳ diệu. Sự xuất hiện cây lược vàng - một thảo dược quý cũng là điều rất lạ. Gần đây người ta hay đồn đại những loại thuốc chữa bách bệnh, có loại trở thành mốt, nhiều người kỳ vọng vào tác dụng thần diệu của chúng, song đa số lại nhận được các kết quả ngược lại.
Trên đời này, thuốc thần diệu không tồn tại, vị tất đến lúc nào đó nó sẽ xuất hiện. Điều này đúng với các loại thuốc mới cũng như các loại đã quen biết. Vì vậy, với mỗi cơ thể riêng biệt đòi hỏi cách tiếp cận riêng biệt, nhất là đối với trẻ em vì chúng cần liều lượng và nồng độ thuốc nhỏ hơn rất nhiều so với người lớn.
Về cây lược vàng các chuyên gia đều cảnh báo, không phải là cây thuốc vạn năng, các tính chất dược lý của nó chưa được phát hiện đầy đủ và cũng chưa thể kết luận chính xác những chất nào đã tạo cho nó có những phẩm chất dược lý tuyệt vời.Và cho dù có như vậy, nhưng cùng một hoạt chất, lúc này có thể là thuốc, nhưng lúc khác lại là chất độc. Chẳng hạn, có trường hợp uống thuốc từ cây lược vàng thanh quản bị tổn thương, dẫn đến giọng nói bị khàn và việc trị liệu trở nên khó khăn; có trường hợp trẻ em 6 tuổi bị bệnh hen, uống thuốc theo toa dùng cho người lớn đã bị ngộ độc. Vì vậy khi dùng thuốc, dù uống trong hay bôi ngoài cũng cần chuyên gia tư vấn.
Tuy nhiên phải khảng định, việc nghiên cứu các tính chất dược lý của cây lược vàng đã đạt được kết quả to lớn, nhiều phác đồ điều trị bằng thuốc chế từ cây này đã được xác định, việc nghiên cứu tiếp theo, đặc biệt là nghiên cứu hoạt tính chống ung bứơu đang được đẩy mạnh.
.jpg)

.jpg)
.jpg)

.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)